Dọn chỗ dời nhà

IMG_7980.JPG

Một thời gian dài lặng yên trên blog mà lòng thì lăn tăn như sóng, chẳng biết Đổi chỗ thì có đổi đời luôn không, cuối cùng mình quyết định dọn dẹp lại kí ức tiện nghi quen thuộc  của chốn cũ để dời chuyển qua một không gian mới. Trong căn nhà mới xây mình sẽ chuyên tâm dành chỗ chuyên tâm cho việc đọc, coi nó như một bầu không khí, quần thể sinh thái thư giãn mà mình sẽ lún sâu vào.

Chuyên trang nhà mới đã dọn chỗ kê bàn pha tra chuẩn bị sẵn sàng cho việc tiếp khách cho bạn có nhã ý ghé chơi thì theo dõi Lật – Thư viện và Tiệm sách 

Cảm ơn các bạn đã ghé thăm trang của mình và đọc những điều mình nghĩ.

Advertisements

Về ngôn từ

Người ta nói trong một người có nhiều ngôn từ, nhiều đến độ mỗi khi cần tưởng tượng đến một thứ gì đó tự ngôn ngữ có thể tuôn chảy ra khỏi cơ thể, biểu đạt hình ảnh những điểm chấm trong trí óc đang dần lộ ra và chuyển giao đến một ai khác, văn sẽ thành hình. Trên phương diện này nhà văn sẽ được ví von như họa sĩ vẽ được rất nhiều hình ảnh trên giấy trắng.

Ví dụ như một cái cây có hình dáng có màu sắc và âm thanh rung động của nó trong gió.

Ví dụ như một bông hoa nở mùi hương sẽ thế nào.

Ngôn từ trong tôi vì hạn hẹp nên hay bị đong đếm, không thể lưu thông lại thường bị tù đọng một chỗ, bởi thế nên tôi có thiên hướng chú tâm vào những góc tả mà có lẽ mình chẳng bao giờ thấy nếu chỉ tư duy bằng vốn từ của riêng, mượn văn người để tưởng tượng ra nhiều thứ.

Ngôn từ của tôi cũng chẳng đủ để kể với người khác về thứ tôi nhìn thấy tôi cảm nhận được, dù rất hào hứng muốn nói về nó, nên đôi khi tôi đành chụp để lại trong kí ức hình ảnh ấy sẽ lưu giữ mỗi khi hồi tưởng. Có thể một ngày nào đó, khi tưởng tượng về nó đủ nhiều ngôn từ sẽ tự nhiên rơi ra khỏi cơ thể.

_MG_7826

_MG_7824

_MG_7817

_MG_7816

_MG_7819

_MG_7821

 

 

Biết cô đơn

Biết cô đơn chính là biết yêu người. Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng đúng là thế. Một sự thật không thể chối cãi là, chỉ có những người có năng lực cô đơn mới có được năng lực yêu, chia sẻ, năng lực đi đến tận cùng nội tâm của người khác, mà không sở hữu người khác, không phụ thuộc người khác, không biến đổi người khác, và không nghiện ngập vào người khác. Năng lực cô đơn còn cho người ta tự do tuyệt đối, bởi vì họ biết rằng nếu họ bị người khác bỏ rơi, họ vẫn ung dung tự tại. Hạnh phúc của họ không thể bị tước đoạt, bởi vì họ chưa bao giờ vay mượn hạnh phúc từ bất kỳ ai.

“The capacity to be alone is the capacity to love. It may look paradoxical to you, but it’s not. It is an existential truth: only those people who are capable of being alone are capable of love, of sharing, of going into the deepest core of another person–without possessing the other, without becoming dependent on the other, without reducing the other to a thing, and without becoming addicted to the other. They allow the other absolute freedom, because they know that if the other leaves, they will be as happy as they are now. Their happiness cannot be taken by the other, because it is not given by the other.”

Osho

Nhật kí hành sách #1

Trong màn thì phải có chăn, chui vô chăn mới biết có rận!

Đọc hết mấy chục kí sách đã vượt quá trọng lượng cơ thể rồi mà vẫn chửa thể hiểu cuộc đời có ý nghĩa gì. Thì hôm nay, nghe Milan Kundera phán một câu xanh rờn: “…đời người đúng như bản chất của nó là một thất bại. Điều duy nhất còn lại với chúng ta khi đối diện với thất bại không thể tránh khỏi đó, mà người ta gọi là cuộc đời, là tìm cách hiểu nó. Đó là lẽ sống của nghệ thuật tiểu thuyết.”

Dẫu gì thì cũng biết mình đã sớm thất bại vì không sớm biết lo giặt chăn mền nên phải trả giá bằng sách, sách thuộc thể loại khuynh đảo tâm trí ko ai thèm đọc.

Mà chắc có lẽ cũng do vướng vào can tội “ngu si hưởng thụ thái bình” quá lâu rồi, mình biết làm gì hơn để giảm bớt hạnh phúc đã lỡ tay vung dùng quá trớn trong thái bình bấy lâu ngoài chuyện tiêu hoang trút nhan sắc trong ví tiền tuổi trẻ vào những nỗi đau dịu dàng lẫn quá trớn việc đọc bắt mình phải đi chợ ngược xuôi trong nó.

Hoặc mình còn phải chờ “mùa hạ rực rỡ” của mình lớn hơn hoặc có thể chẳng còn tồn tại mà chờ. Rồi thì mình cũng ráng lết qua gần hết những ngày cháy da chảy tim trong cơn nóng tiêu thụ mỡ điên cuồng khi lật sách.

***Đây là những ý nghĩ sinh ra từ việc có hoặc chẳng hề có liên quan gì đến những cuốn sách mình đang đọc.

Cơ thể là của mình

“cơ thể là của mình”
nhưng không phải “của mình”
mà chỉ là người bạn
luôn đi bên cạnh mình

nếu muốn tình bạn khoẻ
phải lắng nghe mỗi ngày
có gì báo nhau ngay
để biết cùng thay đổi

cùng ăn khi bạn đói
cùng nghỉ khi bạn cần
cùng uống vừa đủ nước
cùng ngủ vừa đủ say
cùng luyện tập sớm nay
lắng nghe mồ hôi chảy
chú ý lúc nhai này
hay lúc đi “nặng – nhẹ”

lắng nghe và quan sát
để ý và đổi thay
từng chút một, mỗi ngày
trong cuộc đời, chẳng mấy.

Nhược Lạc | 03.2018.

**Tôi không biết tác giả nữ yêu thích của tôi đặt tên bài thơ này là gì nhưng tôi thích câu đầu, vì thế tôi chọn nó làm tựa.

Marathon liều : lời thú tội của tui.

Chấn thương tâm lý gây những vết nứt khủng hoảng tinh thần do tự tìm đọc/học nhiều thứ linh tinh không theo một thể thống quy phạm nào cũng có lúc khiến tôi rơi vào tình trạng làm biếng với những việc phải lựa chọn và đưa ra quyết định. Thì ra, đọc có thể chữa lành đôi chỗ đôi khi, nhưng cũng chứa luôn việc hủy hoại một cách tàn nhẫn cho kẻ lòng tin chỉ mong manh như làn hơi sương giữa chốn lao lung cuộc đời. Không biết người đọc nhiều có mắc phải hội chứng thất thường trong trận chiến bầy binh bố trận luyện tinh thần như tôi?

Vì lẽ đó, tôi thường cứ để cho những tác động đến từ môi trường ngoại vi ùn đẩy tới sát đít, do cố ý hay vô tình nó cũng tự quyết định thay, đến nước chẳng thể nào thoái thác được nữa việc của mình chỉ còn là lao vào mà thực hiện thôi. Tham gia Dalat Ultra Trail 2018, chặng mục cự ly 10km, cũng như mưa từ trên trời chỉ sau một đêm bất ngờ rơi xuống ( một tấm vé tham gia free), lúc tôi còn chưa kịp định vị ra khả năng chịu mưa của mình, hứng mưa như một kẻ “nếu chỉ còn một ngày để sống” thì tiếp tục sống vậy thôi.

Nhiều lần trước đây, tôi còn cố ra chiều thuyết phục em trai dẫn đi trải nghiệm leo núi cùng, nhưng chỉ để cho vui. Tưởng tượng đến việc mới hôm trước còn là một thành viên cố hữu trong đội cổ vũ hôm sau đã chuyển mình đứng vào đội ngũ vận động viên thực thụ thử thách đường địa hình, cảm giác ấy làm tôi hơi ngạc nhiên, bồn chồn, phấn khích và cũng khá là hoang mang lo lắng mình có về nổi tới đích. Cho đến khi bắt đầu, khá nhiều trải nghiệm thú vị bày biện ra trước khả năng cảm nhận mà tôi chỉ có thể nếm được đúng mùi vị của nó trong hành trình ngày hôm ấy, nó đền bù xứng đáng cho nỗ lực của bản thân: ngắm cảnh rừng thông từ sáng còn tinh hơi sương mờ cho tới lúc nắng rải đều sức nóng xuống mặt đất; từ trên cao nhìn bao quát xuống thăm thẳm núi đồi trập trùng quanh co tiếp nối; tôi thực sự biết người ta – có trẻ nhỏ và cả người già – phải trải qua hành trình của mình thế nào….

_MG_7297

Tôi chia quá trình “chèo đèo leo núi” 10km ra ba chặng. Chặng thứ nhất theo tôi là khá nhẹ nhàng với việc di chuyển nhanh và đều. Càng men theo con đường mòn nhỏ ôm lấy đồi thông lộ ra trước mắt, độ dốc càng tăng dần lên rõ rệt. Chặng thứ hai bắt đầu cũng là từ lúc tôi đứng dưới chân đồi dốc đứng đột ngột đầu tiên. Từ một kẻ đôi chân quen thuộc với cảm giác đường trường bị đốc thúc ngay lập tức phải làm quen với việc chuyển lên một nơi có độ cao cao hơn mực nước biển khá nhiều gây tình trạng sốc nhiệt và sốc địa hình. Tim tôi như bị sức ép muốn rơi ra khỏi lồng ngực, phải nỗ lực hít thở sâu hơn mới lấy được đủ không khí vào phổi. Không biết người ta đã có định nghĩa về hiện tượng say địa hình đồi núi chưa? Nếu có thì chắc có lẽ nó gần tựa như say se, say sóng, say máy bay (cũng có phần tệ hơn đôi chút). Tôi tưởng mình đã phải bỏ cuộc từ chặng này. Nôn thốc ra được chút nước trong người khiến tôi thoải mái hơn, tạm đứng nghỉ và có thể tiếp tục leo núi. Phía trước em gái tôi và bạn đồng hành vẫn đều đặn nhịp chân đã bỏ tôi và em trai đi cùng lại khá xa.

Tới chặng thứ ba thì tôi hoàn toàn đã định vị được khả năng “chịu mưa” của mình, tôi thấy khá dễ chịu vượt qua quãng đường dốc vừa phải nhưng khi gặp dốc cao, cơ thể tôi lại như đồng loạt biểu tình lên tiếng cảnh báo, dạ dày ép tôi phải nôn thốc ra lần thứ hai, cơ tim chưa được luyện tập đủ cho điều kiện như thế này. Tôi quả tình là đã tham gia marathon liều lĩnh. Gần như quá trình giữa các chặng bắt đầu leo núi tôi buộc phải nghỉ khá lâu thì mới có thể đẩy mình tiến về phía trước, thấy áy náy khi gây ra sự phiền hà không hề nhỏ cho em trai đi cùng. (Ngày hôm trước, em đã chạy 42km và về đích sớm hơn dự kiến một tiếng rưỡi và hôm sau tiếp tục tham gia cùng để cổ vũ cho tôi và em gái, làm tôi khá nể phục.)

Có những lúc không dám nhìn lên cao, sợ chính cái nhìn của đôi mắt sẽ tiêm nhiễm cảm giác về độ cao quá sức ép cho thần kinh cơ tim nhạy cảm của mình, chỉ tập trung vào từng bước nhỏ trên mặt đất dưới chân. Biện pháp này có vẻ tạo ra chút hiệu quả khắc phục điểm yếu của mình. Lâu lâu, tôi  trấn tĩnh quay lại nhìn bao la phía sau nơi núi đồi đã bị đôi chân bỏ lại.

Rồi cuối cùng, tôi cũng đã có thể tự chúc mừng bản thân vì đã về đến đích với đôi chân cứng đờ  trước  con dốc đứng cuối cùng thử thách vận động viên nơi vạch đích. Tấm huy chương kỉ niệm Dalat Ultra Trail 2018 chính thức là biểu tượng ghi dấu tôi đã vượt qua 10km liên tục đầu tiên trong đời.

Những ngày sau chặng Marathon thú vị tôi thực tình phải thú nhận một điều nữa: cơ thể như được “thay máu”, khẩu vị ăn uống của tôi cũng như được đánh thức, cảm giác thèm ăn luôn thường trực và đồ ăn vì thế cũng trở nên ngon lành hơn trong cảm nhận của vị giác.

* Trong vai trò vận động viên nên tui không đem theo máy ảnh chụp lại được hình ảnh cho hành trình chạy bộ hôm sau của mình. Dưới đây chỉ là hình của cự ly 42km chặng ngày hôm trước.

_MG_7138
Buổi sáng ngày tập trung tại quảng trường lấy BIB
IMG_0050
Em trai đang trong những bước chạy nước rút cuối cùng của cự ly 42km để về đích

29425306_800034446854434_6101491018132094976_n

Bàn về tự học – Cao Xuân Hạo

Trước hết, cần phải nói rằng, tự học là một chuyện vạn bất đắc dĩ, vì ai cũng biết câu tục ngữ “Không thầy đố mày làm nên”. Một câu hoàn toàn đúng, đúng hơn là người ta tưởng rất nhiều.

Có lẽ không ai lại không muốn có thầy khi cần học một nghề gì, hay dù chỉ là một trò hay một mẹo vặt nào cũng vậy. Và dù không có thầy “chính danh” thì vẫn có thể học từ những người mình quen biết. Đôi khi những người này, chính nhờ cái số đông và tính đa dạng của họ, còn có thể dạy cho mình nhiều hơn và một cách có hiệu quả hơn cả thầy nữa. Học thầy không tày học bạn kia mà!

Viết đến đây tôi sực nhớ đến lời một nhà văn Pháp mà tôi không nhớ tên, nói rằng xưa nay chưa có và không thể có người nào thực sự tự học cả. Và chỉ có những kẻ cực kỳ hợm hĩnh và vô ân mới có thể nói khoác rằng mình là người tự học.

Quả đúng như vậy: ai mà chẳng học của người khác? Làm gì có ai không nhờ người khác mà biết được phần lớn những gì mình biết? Trước tiên, người ta học mẹ mình, rồi đến bố mình, rồi đến những người sống quanh. Và nếu không nhớ điều đó mà nói rằng tự mình tìm biết lấy mọi sự thì đúng là cực kỳ ngu dại, hợm hĩnh và vô ân.

Cho nên, phải hiểu hai chữ “tự học” theo một nghĩa hẹp hơn rất nhiều, kể cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Và nếu có ai không được một người thầy trực tiếp dạy bảo cho một cái gì đấy, thì cũng có những người thầy gián tiếp dạy mình bằng tấm gương của cách sống và cách hành động của họ. Tấm gương ấy có thể tích cực hay tiêu cực: những hành vi xấu xa hay đáng ghét mà ta chứng kiến và thể nghiệm từ người khác cũng bổ ích cho ta không kém gì những hành vi tốt đẹp, nếu ta nhờ cái “tính bản thiện” vốn có của con người mà biết ghét cái xấu và yêu cái tốt.

Sau khi đã hạn định khái niệm “tự học” như vậy, ta hãy trở về với hai chữ tự học đúng như số đông thường quan niệm. Người tự học là một danh từ (hay danh ngữ) có ít nhiều sắc thái “xấu nghĩa” trong nhiều thứ tiếng khác nhau. Cho nên ngay cả những người vốn tự hào rằng mình tự học mà thành tài cũng thấy khó chịu khi có ai giới thiệu mình bằng danh từ này. Vì, trong ý thức của phần đông, khó lòng có ai “tự học” mà thành tài thực sự, và chính những người “tự học” cũng có phần nào chia sẻ cái ý thức ấy, dù những người tự học có tự hào đến đâu về những nhân tố chủ quan và khách quan đã cho phép họ gây dựng lấy sự nghiệp của mình.

Cách đây bốn mươi năm, một người bạn học cũ, khi thấy tôi ngồi mỗi ngày mười tiếng trong Thư viện Khoa học ở phố Lý Thường Kiệt để đọc cho bằng hết các sách ngôn ngữ học, tri thức luận và logic học trong đó, có khuyên tôi thôi làm cái việc dã tràng xe cát ấy đi, vì nếu muốn học giỏi bằng một anh phó tiến sĩ của Nga, một người Việt Nam tự học phải thông minh gấp ba và đọc gấp mười mới được. Lòng tràn đầy tự ái, tôi đáp: “Sao anh biết tôi không thông minh gấp ba và sẽ đọc nhiều gấp mười nó?”

Thật ra, càng về sau, tôi càng hiểu là câu nói của bạn tôi hoàn toàn đúng.

Cố giáo sư Hoàng Tuệ có kể lại cho tôi và nhiều người khác nghe rằng, vào những năm 70, khi ông nhắc đến tên một nhà ngữ học Việt Nam có tiếng trong khi nói chuyện với A.G.Haudricourt, nhà ngữ học Pháp lừng danh này đã thốt lên một câu làm cho ông chột dạ: “Cái anh chàng tự học ấy sẽ không làm được gì nên thân đâu!”

Ông kể thêm rằng lúc bấy giờ, ông nghĩ bụng: “Chắc Haudricourt tưởng tôi là dân “chính quy”, tốt nghiệp đâu ở Liên Xô hay ở Mỹ về, mới nói như thế” (vì ông hiểu câu trên có hiệu lực đối với tất cả những người tự học). Ông quên mất rằng chính Haudricourt cũng là người tự học. Nhà ngữ học nổi tiếng này vốn là một kỹ sư Nông học, chưa hề được đào tạo chính quy về ngữ học bao giờ, nhưng đã viết nhiều sách và bài vở về ngành này, nhất là về ngữ học lịch sử. Và ngay sau khi chứng minh được nguồn gốc Môn-Khmer của tiếng Việt năm 1954, 1959 thông qua sự chuyển biến của các phụ âm thành thanh điệu, ông đã được toàn giới đồng nghiệp trên thế giới coi là một nhà ngữ học lớn, mặc dầu mãi đến năm 1984, nghĩa là khi đã thành một cụ già bảy mươi mấy, ông mới có bằng tiến sĩ.

Kinh nghiệm ấy của Haudricourt và của một số nhà bác học khác cho thấy rằng người tự học không phải bao giờ cũng kém cỏi. Và nếu đem số người tự học mà thành tài so với số người có bằng cấp hẳn hoi mà dốt nát, chưa chắc bên nào đông hơn. Nhưng cái định kiến làm cho hai chữ tự học có sắc thái coi thường tuyệt nhien không phải là vô căn cứ. Nói gì thì nói, chứ những khó khăn mà người tự học chắc chắn là lớn gấp bội so với những khó khăn của người được đào tạo chính quy.

Trên con đường học vấn của người tự học nhan nhản những cạm bẫy cực kỳ nguy hiểm khiến cho tri thức của họ có nguy cơ lệch lạc hoặc chứa những lỗ hổng rất lớn mà bản thân họ không hay biết. Tôi và các bạn đồng nghiệp đã từng nhiều lần giật mình toát mồ hôi lạnh mỗi khi nhận ra một lỗ hổng to tướng nằm trong vốn tri thức của mình, trong khi đang làm nhiệm vụ của người dẫn đường cho cả một lớp thanh niên đi theo với một lòng tin tuyệt đối.

Cố bộ trưởng Tạ Quang Bửu có một bài viết rất hay về giai đoạn khủng hoảng tinh thần mà một số nhà phát minh lớn trong lịch sử nhân loại đã trải qua, khi họ giật mình nhận thấy điều họ mới phát minh bác bỏ các bậc tiền bối của họ một cách quá phũ phàng. Vì lòng ngưỡng mộ và sùng kính sâu xa đối với những người mà xưa nay họ vẫn coi là thầy, họ thấy mình quá táo tợn và hỗn xược. Một câu hỏi khủng khiếp hiện lên trong tâm trí họ: “Chẳng lẽ những con người từng làm loé lên trong tâm trí mình cái tia sáng làm nên tất cả những gì giá trị nhất trong tri thức của mình, chẳng lẽ những con người ấy sai? Hay chính vì còn quá dốt mà mình nghĩ ra cái điều mới mẻ này, cái phát minh mà mình tưởng đã đủ để phủ định họ?”

Thế là các nhà cách tân bắt đầu soát lại từ đầu những luận điểm của mình để tìm cho ra cái chỗ sơ hở nào đó đã dẫn tới chỗ phủ định các bậc thầy. Cái việc đó làm thành một cơn vật vã kéo dài suốt một thời gian dài lao tâm lao lực. Hầu hết các nhà khoa học lớn, trước khi dám công khai phủ nhận những lời phàn truyền có tính chất Thánh kinh mà họ đã học thuộc lòng từ thuở bé từ những bậc tiền bối mà họ vẫn hằng sùng kính, đều phải trải qua cơn vật vã ấy.

Ở đây có thể có hai khả năng. Một là người làm khoa học, sau những cố gắng kiểm nghiệm lại, thấy rõ mình nhầm ở một cái khâu nào đó, bèn từ bỏ giả thuyết đã đề ra, trở lại điểm xuất phát và bắt đầu lại quá trình khảo sát. Hai là anh ta cảm thấy mình không nhầm, ngay cả khi nghe những lời phản biện của các bạn và các thầy, vì anh có được những lý lẽ căn cứ trên những dữ liệu đủ chắc chắn để bác bỏ những lời phản biện đó và xác nhận lý thuyết của mình như một bước cách tân thực sự. Dù kết quả của cuộc kiểm nghiệm ấy có đau xót ra sao, thì anh ta cũng trưởng thành lên một bước rất dài. Miễn sao anh trung thực với chính mình và với các sự kiện có liên đến vấn đề, để chấp nhận một kết luận đúng, dù nó có làm tổn thương đến lòng tự ái của anh đến đâu đi chăng nữa.

Với người tự học, khả năng vẫn nhầm lẫn ngay cả sau khi trải qua cuộc khủng hoảng ấy lớn hơn rất nhiều so với người được đào tạo chính quy. Vì sự phản biện trong cảnh cô đơn là việc cực kỳ khó khăn. Ở đây có một vực thẳm không đáy chờ sẵn người tự học: đó là thảm cảnh của chứng vĩ cuồng, mà tôi đã có dịp bàn ở một chỗ khác. Lâm vào thảm cảnh này, người tự học sẽ trở thành kẻ điên rồ không phương cứu chữa, một phế nhân không có lấy được niềm an ủi tối thiểu của các phế nhân là lòng thương xót của đồng loại: không ai có thể xót thương một kẻ giương giương tự đắc, tự cho phép mình khinh miệt mọi người chỉ vì mình học không đến nơi đến chốn.

Người trí thức chân chính không hẳn là người biết nhiều. Điều quan trọng hơn là họ biết rõ mình biết cái gì, và không biết cái gì. Biết rõ mình không biết cái gì khó gấp ngàn lần biết rõ mình biết cái gì. Và điều đó chính là thước đo chính xác nhất của cái gọi là “trình độ văn hoá”.

Người có học vấn thực sự, nhờ đã trải qua những bước đường gian nan, cực nhọc để có được những tri thức mà trước kia mình tưởng rất dễ, biết rằng những điều mình học được chỉ như hạt muối bỏ bể so với những điều mình chưa học. Và bao giờ cũng phải có học một cái gì đã, rồi mới bắt đầu biết là mình không biết cái gì. Cho nên người có học không bao giờ nghĩ rằng có những ngành nghề mà mình không cần giờ học nào cũng có thể bàn đến được, càng không bao giờ nghĩ rằng mình đủ sức viết hàng ngàn trang sách về những môn ấy để dạy mọi người.

Đáng tiếc là khá nhiều người đã thành công rực rỡ trong một lĩnh vực nào đó rất dễ có ảo giác là người lỗi lạc như mình học gì cũng giỏi và thậm chí không học cũng biết. Ngay từ cái giây phút mà ở người trí thức sinh ra cái ảo giác này, thì anh ta lập tức không còn là người trí thức nữa và trở thành con người lố bịch và ngu muội nhất thế gian: một kẻ vĩ cuồng. Đối với người tự học, cái hiểm hoạ này dễ trở thành hiện thực hơn đối với người học chính quy rất nhiều.

Cho nên, người tự học không nên tự ti, chỉ nên cảnh giác đối với bản thân. Không có một người thầy để kiểm tra mình, để thường xuyên nhắc nhở cho mình nhớ rằng mình chưa trở thành vĩ nhân trong lĩnh vực của mình và không biết gì trong các lĩnh vực khác, thì chính mình phải thường xuyên làm việc đó thay cho người thầy.

Nhưng trong thực tế, nhất là ở nước ta, số người có năng khiếu mà được học chính quy xưa nay cực hiếm, cho nên việc tự học cần phải được khuyến khích và giúp đỡ bằng mọi phương tiện. Ở các nước tiên tiến, nơi mà điều kiện để học chính quy rất thuận lợi , những loại sách tự học vẫn được xuất bản rất nhiều, và cho rất nhiều ngành nghề khác nhau, trong khi ở ta loại sách này rất hiếm (trừ sách học tiếng Anh).

Nhưng bao giờ nói đi rồi cũng phải nói lại: người được học chính quy không phải bao giờ cũng thành tài, cũng trở thành người có học thức. Bên cạnh cái định kiến cho rằng người tự học không bao giờ học đến nơi đến chốn, lại có cái định kiến cho rằng chỉ cần tốt nghiệp từ một trường lớn, có một người thầy danh tiếng lừng lẫy, là đủ bảo đảm một vốn học thức uyên thâm.

Đến đây, lại phải nói ra một điều mà thoạt nghe có vẻ ngược đời. Đó là dù có học trường gì, thầy nào nổi tiếng đến đâu chăng nữa, thì nhân tố quan trọng nhất, quyết định kết quả mỹ mãn của quá trình đào tạo vẫn là cái công tự học của người học trò. Tự học ở đây chỉ cái phần tích cực, chủ động, quyết đoán của người học. Vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình học tập là vai trò của người học, tuy vai trò của người dạy không phải không quan trọng.

Ở nhà trường, dù chỉ nói đến môn học chính, người đi học chỉ học một tuần mươi giờ là cùng. Thì giờ còn dư dùng để tự học (tự quan sát thêm sự kiện, tự tìm dẫn chứng, tự kiểm nghiệm thêm các giả thuyết, tự đọc thêm sách vở, tự liên hệ thêm với thực tế . ) nhiều gấp mấy 2-5 lần so với thì giờ trên lớp. Cho nên ngay đối với người học chính quy, việc tự học vẫn là chính, kể cả khi lên lớp nghe giảng hay hoạt động trong những buổi thảo luận

Người thầy giỏi có thể lầm cho một số học trò trở thành một người say mê môn học mà vốn mình không thích thú gì. Nhưng với một người thầy không giỏi, người học trò ham học cũng có thể tìm thấy hứng thú như khi đọc một cuốn sách hay. Còn với một người học trò không ham học chút nào thì dù thầy có gíảng hay đến bao nhiêu cũng không gây được men say trong lòng người ấy. Và dĩ nhiên họ không hơi đâu mà tìm sách đọc thêm.

Vả chăng, ở đây cũng còn phải tính đến nhiều nhân tố khác nữa: gia đình, môi trường xã hội

Người lấy danh vọng của trường và của thầy làm niềm tự hào của mình cũng không khác bao nhiêu so với người lấy tấm bằng làm mục đích của đời mình. Đó là những người lấy danh vọng và địa vị làm mục đích, chứ không phải là những người ham học. Họ cũng giống những người lấy danh vọng tổ tiên làm niềm tự hào cho đời mình. “Ông nội tớ đỗ trạng nguyên, thì tớ đủ hơn mọi người trong tỉnh rồi, còn gì phải học nữa?”

Tôi không phủ nhận tầm quan trọng của di truyền. Cái gen tài năng rất có thể là một nhân tố không thể thiếu được trong sự nghiệp của một nghệ sĩ hay một nhà bác học. Nhưng xưa nay ai cũng biết không phải 100% con cháu dòng giống đều là những người tài năng. Như rất nhiều bậc thiên tài khác đã khẳng định, nhân tố di truyền chỉ cho ta điều kiện tiên quyết mà thôi. Là con nhà nòi, ta có đúng 10% khả năng trở thành nhân tài. Còn 90% nữa là do sức lao động bỏ ra trong ba bốn chục năm đèn sách. Con nhà nòi, dù có năng khiếu bẩm sinh đến đâu chăng nữa mà không dày công học hỏi, nghiên cứu và thực nghiệm, thì mãi mãi chỉ là kẻ thất học mà thôi.

Nói tóm lại, tự học là một cách học như mọi cách học khác, nhưng người không được học chính quy gặp khó khăn hơn nhiều, cho nên dễ nhầm lẫn hơn. Người đó cần hiểu hết những sự thiệt thòi mà mình phải chịu, và cố gắng lấp kín những kẽ hở có thể rất nhiều do không có người hướng dẫn.

Mặt khác, người được đào tạo chính quy cũng không thể không tự học, nghĩa là giữ vai trò chủ động trong việc tiếp thụ tri thức và bổ sung, chỉnh lí những tri thức đã được học từ những người thầy, trong đó không phải chỉ có những người thầy chính thức trực tiếp dạy mình, mà còn cả những người bạn và những người học trò của mình nữa.

Cao Xuân Hạo, Kiến thức ngày nay, số 396, năm 2001